Sự kiện
Họ Ngô Tam Sơn, Đông Ngàn và những người họ Ngô phò nhà Mạc
 

Ngô Bá Di tự Hải Sơn con trai Thanh Quốc công Ngô Khế,một trong sáu người cư biệt quán,về ở xã Tam sơn huyện Đông ngạn,nay là huyện Tiên sơn tỉnh Hà bắc,coi chùa và dạy học,sinh Ngô thuần Nho tự Quân Hiên,Ngô Luân Tiến sỹ 1475 Tao đàn tướng ,Lễ bộ thượng thư Đông các Đại học sỹ.

Ngô Quân Hiên Cẩm y vệ Đô chỉ huy sứ sinh Ngô Thầm

Ngô Thầm đỗ Bảng nhãn khoa quý sửu 1493,Tao đàn tướng, làm chức Hàn lâm viện Thị thư,sinh con trai Ngô miễn Thiệu.

Ngô Miễn Thiệu tự Thuận Nhã, hiệu Trúc Khê, đỗ Trạng nguyên khoa mậu dần 1518,làm quan triều Lê được 9 năm thì Mạc đăng Dung cướp ngôi,ông bỏ về quê Tam sơn dạy học,sinh bốn con trai: Ngô Diễn,Ngô Dịch,còn hai người phả cũ không chép tên.Lại có một con nuôi tên Nguyễn gia Mưu,đổi họ Ngô, thi đỗ Tiến sỹ 1559,làm quan triều Mạc,sau trở thành con rể,sinh nhiều con cháu đỗ đạt,nay là thuỷ tổ họ Ngô Sách ở Tam sơn.

Lúc bấy giờ nhà Minh bên Trung quốc vẫn có âm mưu bành trướng xuống phía nam,nhân nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê,sai sứ sang hỏi tội nhiều lần,vua Mạc đã phải dùng đến hình nhân vàng bạc đút lót sứ Minh mới chịu về.

Năm giáp ngọ 1534, nhà Minh lại lấy cớ hàng năm thiếu cống vật, sai Hám ninh Hầu Cừu Loan làm Tổng đốc quân vụ,Binh bộ Thượng thư Mao bá Ôn làm Tham tán quân vụ, huy động quân Lưỡng Quảng sang hỏi tội nhà Mạc.Đóng quân trên đất Trung quốc bên kia biên giới,Mao bá Ôn đưa bài thơ”Vịnh cánh bèo” để thử thách,nhằm gây sự, với thái độ hống hách miệt thị nhà Mạc.Triều đình nhà Mạc không ai hoạ được,vua Mạc triệu Trạng Giáp Hải Ngô miễn Thiệu vào triều hỏi ,tình hình như thế làm thế nào?Ngô miễn Thiệu nói,nếu không có lời lẽ thống thiết thì làm sao lui được quân Minh,nhà vua muốn thì có khó gì ! Bèn hoạ thơ của Mao bá Ôn và thảo điệp văn gửi cho quân Minh,ký tên Đầu Mục Mạc đăng Dung.

Nhận được thơ hoạ và điệp văn,Mao bá Ôn tạm dừng quân ở bên kia biên giới.Đương thời trong triều nhà Mạc có câu”Lập thi thoái lộ”(Đứng làm thơ mà lui được giặc) để ca ngợi tài Trạng nguyên Ngô Miễn Thiệu.

Thực ra lúc bấy giờ nhà Minh không đủ mạnh để đánh xuống phương Nam.Ngoài lực lượng của nhà Mạc còn có lực lượng phù Lê ở Hoan Ái sẵn sàng đánh ra khi có cơ hội.Phía bắc quân Mông cổ lấn đánh sâu vào nội địa uy hiếp Bắc kinh.Suốt dọc bờ biển Nuỵ khấu hoành hành(Quân cướp biển người Nhật bản liên kết với cướp biển người Trung quốc)thường xuyên phải đối phó.Nội bộ thì hoạn quan chuyên quyền,chế độ thống trị nghiêng ngả.Tuy vậy nhà Minh cũng không bỏ lỡ cơ hội,trong lúc tất cả lực lượng phải dồn vào đối phó ở phương bắc và Trung nguyên,không đủ sức mở cuộc hành quân xuống phương nam,mới trưng tập quân Lưỡng Quảng, Hồ quảng, Phúc kiến, Vân nam,chia đóng dọc biên giới Trung Việt phô trương thanh thế ,nói phao lên rằng chuẩn bị tiến quân đánh nhà Mạc.Mạc đăng Dung hốt hoảng lo sợ sai Nguyễn văn Thái mang theo nhiều của cải châu báu đút lót cho quan tướng nhà Minh .Quân Minh đã suy yếu không dám tiến công,chỉ hăm doạ chờ họ Mạc đầu hàng .Mãi đến năm 1542 nhà Mạc mới chính thức đầu hàng,lễ vật tạ ân lên đến 309 lạng vàng,842 lạnh bạc, ngà voi ,tê giác ,hương liệu giá trị tương đương.

Mao bá Ôn tâu về triều đình nhà Minh, có đoạn:”An nam từ Hán Đường đến nay tuy xưng là nội phụ,nhưng phong tục mọi rợ,khí hậu chướng độc,vẫn không thích hợp với Trung quốc,đại khái vài năm lại sinh loạn một lần,liên kết bè đảng vây hãm đánh giết,lại phải mất vài năm mới dẹp yên được.Ngày trước Trương Phụ đem 10 vạn quân tổn phí rất nhiều mà chỉ lập quận huyện được vài năm,rồi kẻ phản nghịch nối tiếp nổi lên và cuối cùng lại trở về dân Man.Đây là điều chứng nghiệm rõ ràng,xét lợi hại mấy đời trước thì nên để ngoài không nên cho nội thuộc…”.

Bài thơ : Vịnh cánh bèo của Mao bá Ôn:

Nguyên văn Dịch nghĩa

Tuỳ điền trục thuỷ mạo ương châm Ruộng nước lênh đênh nhỏ tựa kim

Đáo xứ khan lai thực bất thâm Nơi nơi trông thấy mọc nông mèm

Không hữu bản căn không hữu cán Đã không cành cội còn không gốc

Cảm sinh chi tiết cảm sinh tâm Dám có rễ mầm lại có tim

Đồ trừ tự xứ minh tri tán Nào biết nơi tan duy biết tụ

Đản thức phù thì ná thức trầm Chỉ hay khi nổi nọ khi chìm

Đại để trung thiên phong khí ác Giữa trời giông tố thình lình nổi

Tảo quy hồ hải tiện nan tầm. Quét bạt ra khơi hết kế tìm.

Bài hoạ của Ngô Miễn Thiệu

Nguyên văn Dịch nghĩa

Cẩm lân mật mật bất dung châm Vảy gấm ken dày chẳng lọt kim

Đối diệp liên căn bất kế thâm Lá liền rễ mọc kệ nông mèm

Thượng dữ bạch vân tranh thuỷ diện Mây bạc không cho soi thủy diện

Khẳng giao hồng nhật chiếu ba tâm Ánh hồng đâu dễ rọi ba tâm

Thiên tùng lãng đả thanh nan phá Sóng dồn ngàn lớp không xô vỡ

Vạn trận phong xuy vĩnh bất trầm Gió rập muôn cơn khó đánh chìm

Đa thiếu ngư long tàng giá lý Rồng cá ít nhiều nương dưới đó

Thái công vô kế hạ câu tầm . Cần câu Lã Vọng hết mong chờ.

Bài Điệp văn do Ngô Miễn Thiệu viết:

Trộm nghĩ,

Trời đất lấy sinh dục làm công,mà công ấy thành là có bốn mùa giúp rập,

Đế vương lấy vỗ về làm đức, mà sáng cái đức ấy là có tướng sỹ chí tình,

Trên dưới hợp đồng,xưa nay một lẽ.

Thiết nghĩ,Mạc đăng Dung tôi,vốn làm quan thân thuộc, thân gặp buổi suy vi, dương uy dùng sức,chống chọi gian nan,gặp biến tòng quyền chưa đạt với lý,

Điều đáng trách như núi như non, động uy vũ như sấm như sét,đại tướng quân truyền mệnh,xe quân cõi ngoài,biển cả sục sôi thật đáng khiếp sợ,Thái sơn đè trứng, nhà Mạc đâu dám đương.

Cung duy,Khâm sai quan các vị,mang cái học thuật thao lược,cầm cái quyền chinh phạt,lấy nhân làm mộc,lấy nghĩa làm gươm,áp dụng không đâu không thuận lợi.Lấy vũ ra uy,lấy văn phủ dụ,động tác đó bao giờ cũng hợp thời nghi.Không lấy đánh dẹp làm công cao,mà lấy chiêu an làm nghĩa vụ, dưới uy chớp giật sương sa,có dáng xuân phong hoà khí,thương đàn con đỏ vô tội xứ Nam Giao,sao nỡ để mắc vòng mũi tên hòn đạn.Mong đem lòng nhân,không nỡ để mất lòng nhân mà mở đức hiếu sinh,một cửa cha con họ hàng còn gặp gỡ,cả cõi trẻ già trai gái đều mừng vui,mở ra rộng khắp không gì bằng lòng nhân.

Nhà Ngu dùng văn và đức,tất tuân ông Bá Vũ bày mưu,nhà Chu có Thánh nhân nên nước Việt Thường lại cống.

Ký tên: Đầu mục Mạc đăng Dung.

Con cháu Trạng nguyên Ngô Miễn Thiệu

Ngô Diễn đỗ Tiến sỹ khoa canh tuất năm Cảnh Lịch thứ 3 (1550),Gia hạnh Đại phu Hàn lâm viện Thị giảng,Lễ bộ Tả Thị lang,thăng Thượng thư,Kim tử vinh lộc đại phu Nhân sơn Bá,dòng dõi thất truyền nhiều đời,con cháu thất tán,nay chỉ biết được vài nhà hiện ở quê cũ Tam sơn trông coi mồ mả, là cha con Ngô văn Vỵ ,Ngô văn Đại .

Ngô Dịch (có bản chép Ngô Trạch vì chữ Hán hai chữ Dịch và Trạch gần giống nhau),đỗ Tiến sỹ năm Quang bảo thứ 2 nhà Mạc (1556), Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu Hộ bộ Tả Thị lang gia phong Thượng thư,Lĩnh hải Nam, sinh Huyền Sơn,Nghị Trai.

Ngô Huyền Sơn Thông Chính sứ Triều liệt Đại phu sinh Ngô Vỵ tự An Sơn Vĩnh sơn Hầu,con cháu nay là các dòng ở huyện Đông anh hà nội.

Ngô Vỵ tự An Sơn, Hiển cung Đại phu Tả thị lang Vĩnh sơn Hầu sinh Ngô quang Tân ở xã Viên nội,Ngô hoa Sơn ở thôn Đoài,Ngô văn Trung ở Sa mạc (có dòng vào làm Tri phủ Anh sơn ở lại sinh con cháu ở Đô lương,có người thiên ở huyện Vĩnh lộc Thanh hoá,nay ở mỗi nơi đều có con cháu.

Dưới triều Mạc mậu Hợp, Ngô Vỵ đương giữ chức Đô Cấp sự trung,cùng các Cấp sự trung cả khoa dâng Sớ khuyên răn vua Mạc,nội dung lá Sớ như sau (Chép theo Đại Việt thông sử):

“Hiện nay thời sự gian nguy có những điểm đáng lo,kỷ cưong rối loạn chính sự hững hờ,hình ngục oan uổng,chính sự sai lầm,tướng chưa hoà hợp,binh chưa chỉnh tề,khi quân địch kéo đến đánh phá phía tây nam, nhân dân địa phuơng bị khốn khổ,tạo nhiễu cả đến kinh thành,thế mà khi ấy triều đình không đặt một phương lược hoặc một kế hoạch gì để chống địch,để cho chúng tự do tiến tự do lui ,tha hồ thi thố hết các mưu kế, rình lúc sơ hở mà làm hại ta, khiến cho dân ta ở miền ven núi rất là khốn đốn,không được yên ổn,lại thêm trời ra tai biến luôn.Nếu ngay bây giờ biết tìm phương pháp cải cách tệ chính,biết sợ cơn giận của trời, chỉnh đốn binh bị để chinh phạt giặc thù, thì cũng chưa muộn,vẫn còn thể kịp.Khốn nỗi vua tôi trên dưới cứ vui chơi ngạo nghễ,hơn hớn tự cho là thái bình vô sự.

Về phần bệ hạ hiện chưa bản thân điều khiến chính sự,các bản tấu chương của đình thần đều uỷ cho vị phụ chính Ứng Vương quyết đoán, Ứng Vương lại thường về Dương kinh luôn,bởi thế công việc trong triều đều bê bố,,quân sự cũng theo đó mà trễ nãi,quan các doanh thường có việc đến yết kiến,không được gặp,tướng các doanh không biết bẩm báo xin mệnh ở đâu. Bậc công bảo đại thần như Lễ Quận công Trần thì Thầm,sợ hiềm nghi thường né tránh không dám quyết đoán.Lân Quận công Giáp Trưng thì lấy sự qúa thịnh làm răn,thường luôn xin giải chức,Đốc phủ Trưởng quan Ngạn Quận công Mạc ngọc Luyện và Thạch Quận công Nguyễn Quyển thì hoặc thoái thác không đến công đường,hoặc tránh né không chịu bàn việc,cho nên các quan tả hữu không dám bàn bạc.Văn thần trọng trách như Nghiã sơn Bá Trần văn Nghi,Vĩnh kiều Bá Hoàng sỹ Khải,An khê Bá Mai Công,Đoan xuyên Bá Nguyễn Triệt thì đều giữ vẻ khoan hậu,không cần nghĩ đến việc sâu xa,bởi thế các liêu thuộc nhân đó mà trễ nãi,có viên về thăm quê đến hàng tuần,hoặc có việc họp bàn luận mà chỉ một vài viên đến họp,hoặc có viên dự họp mà không nói ý kiến của mình.Ngày nay thảo luận ngày mai bàn tán,chỉ nói các chuyện lặt vặt ở các nha môn,còn việc chính trị trọng đại của triều đình không hề nói đến,như vậy việc nước một ngày một suy đồi,đó là cái cơ nguy loạn không thể cấp cứu.Những người giữ việc nước biết mà không chịu nói,hoặc nói mà không hết lời,một khi triều đình đã thất kế, thì thiên hạ quốc gia sẽ như thế nào…”

Năm 1592 Trịnh Tùng hạ thành Thăng long,Mạc mậu Hợp chạy về Kim thành Hải dương,Trinh Tùng đuổi đến Kim thành, Mậu Hợp chạy thoát,17 đại thần nhà Mạc ra hàng trong đó có Ngô Thao chức Hộ bộ thị lang An giang Hầu (là con Ngô Bình cháu Ngô Bạt dòng Ngô thế Bang).Trịnh Tùng đuổi đến Hoành bồ bắt được Mạc kính Chỉ,Đại học sỹ Ngô Củng,Tự khanh Ngô Áng,Tả thị lang Vĩnh sơn Hầu Ngô Vỵ,Mai Công… Trịnh Tùng dụ hàng,không ai hàng,Mai Công uống thuốc độc tử tiết, còn lại Trịnh Tùng phủ dụ rồi cho ai muốn đi đâu thí đi,mấy ông họ Ngô không trở về quê cũ.

Đó là nguyên nhân họ Tam sơn hầu hết thiên cư về huyện Kim anh.

Những người họ Ngô tham gia công cuộc phù Lê diệt Mạc

Thời vua Lê Chiêu Tôn (1516-1522) tin dùng Mạc Đăng Dung giao cho trấn thủ Hải dương.Trong triều có hai họ,họ Nguyễn làng Gia miêu huyện Tông sơn Thanh hoá và họ Trịnh ở xã Thuỷ chú huyện Lôi dương,có nhiều công lao trở thành hai họ quyền thần,tranh dành nhau quyền lực,chống nhau ngày càng quyết liệt,Chiêu Tôn hoà giải mãi không xong.Nguyễn hoằng Dụ đem quân đánh Trịnh Tuy,Trịnh Tuy thua phải chạy vào Lôi dương.Con nuôi của Trịnh Tuy là Trần Chân đánh lại Nguyễn hoằng Dụ,Hoằng Dụ thua chạy vào Tông sơn.

Trong triều chỉ còn lại Trân Chân nắm mọi quyền hành.Trần Chân liên kết với Mạc đăng Dung,gả con gái cho Mạc đăng Doanh,kết làm sui gia,cùng nhau âm mưu làm phản.Thuỵ Quận công Ngô Văn Bính khuyên Chiêu Tôn sớm trừ Trần Chân để phòng hậu họa.Sau ngày Trần Chân bị giết,Mạc đăng Dung thâm thù anh em Ngô văn Bính.

Nguyễn Kinh,một tướng mạnh ở Sơn tây là học trò Trần Chân kéo quân đánh vào Đông kinh trả thù cho Trần Chân,kinh thành bị bức bách,Chiêu Tôn triệu Mạc đăng Dung đem quân Hảỉ dương về cứu nguy.Đăng Dung đóng quân ngoài thành,giả vờ sai người đi thuyết phục Nguyễn Kinh,về tâu rằng:Nguyễn Kinh sẽ lui binh nếu nhà vua chịu giết ba người đại thù của Trần Chân :Chu Khải, Trịnh Hựu và Ngô Văn Bính,vì việc giết Trần Chân là do ba người dèm pha.Nhà vua nghe theo lời của Đàm Cử giết bọn Chu Khải ba người cho chúng vừa lòng tháng 8 năm 1518(Theo phả cũ thì Ngô văn Bính mất vào năm 1540,sau khi đánh chiếm huyện Lôi dương, về thăm quê Đồng phang bị bệnh từ trần thọ 68 tuổi),nhưng bọn Kinh càng hoành hành dữ không chịu giải binh.Vĩnh hưng Bá Trịnh Tuy thông đồng với Nguyễn Kinh lập Tỉnh tu Công “Lộc” tiếm xưng niên hiệu Thiên Đức,rồi truất bỏ Lộc, lập Lê Do tiếm xưng niên hiệu Thiên Hiền,đặt hành điện tại Từ liêm.

Nguyễn hoằng Dụ đem quân từ Tống sơn ra,nhà vua sai Hoằng Dụ cùng Đăng Dung chia đường tiến đánh Nguyễn Kinh,Hoằng Dụ thua to,đem quân xuống thuyền,liệu bề không đánh nổi,kéo về Tông sơn,để một mình Đăng Dung chống nhau với địch.Mạc đăng Dung lập mưu xin vua tha tội cho Nguyễn Kinh rồi thu làm tay chân.Đăng Dung một mình cậy công lộng quyền,tướng lĩnh các nơi không phục,chống lại.Đăng Dung cầm quân đi dánh dẹp,sau khi bắt được Trần Thăng ở Lang nguyên,Lê bá Hiếu ở Đông ngàn ,uy quyền càng thịnh,một mình nắm giữ binh quyền,riêng đạo quân của nhà vua thì yếu ớt,nên Dung càng lưu tâm tạo phản. Trong triều thì có Phạm gia Mô Lễ bộ Thương thư,là sui gia,ngoài trấn thì có Vũ Hộ là em rể làm Đô đốc Trấn thủ Sơn tây cùng bè đảng,em là Mạc Quyết cầm đạo quân Túc vệ của nhà vua,con trai Mạc đăng Doanh giữ chức Trực Kim quang điện,tìm cách giết hết những người tâm phúc của nhà vua như Nguyễn Thọ,Đàm Cừ, Nguyễn Cầu,tự do ra vào nơi cung cấm,đi đâu thì dùng thuyền rồng,cờ long phụng.

Chiêu Tôn thấy tình thế ngày càng nguy ngập,bèn bàn ngầm bỏ kinh thành đi ra ngoài,để hiệu triệu các trấn đưa quân về cứu nguy,lại sai người mang mật chiếu vào Tây kinh triệu cựu thần Trịnh Tuy ra giúp.

Mùa thu,vào đêm 23 tháng 7 (1522) Nguyễn Hiền, Phạm Thứ vào cung ăn yến,lén đón vua đi đến Hoa mộng sơn huyện Minh nghĩa (tức huyện Tùng thiện tỉnh Sơn tây sau này),không kịp thông báo cho Thái hậu và em biết.Ngày hôm sau Đăng Dung mới biết, sai Hoàng duy Nhạc dẫn quân đuổi kịp nhà vua ở Thạch thất,quân nhà vua chống đánh giết chết Hoàng duy Nhạc.

Mạc đăng Dung lập Hoàng đệ Xuân làm vua, rước về Hồng thị làm nơi hành điện (thuộc Hải dương),đắp luỹ Cẩm giàng để phòng thủ.

Ít lâu sau Chiêu Tôn huy động được lực lượng khá lớn,từ Hoa mộng sơn trở về điện Thuỵ quang,trăm quan tới chầu, các nơi xa gần hưởng ứng, bèn sai bốn tướng đi đánh Mạc đăng Dung,đánh gần một tháng chưa phân thắng bại,đang đêm bất ngờ Đăng Dung dùng thuỷ quân đánh úp phá được dinh trại quân nhà vua,dẫn quân sang sông,quân nhà vua thua chạy.Có bốn tên lính từ phường Phục cổ xông vào điện Thuỷ Quang,quân hộ vệ cản được,nhà vua hốt hoảng chạy đến làng Nhân mục,trăm quan tản mát,mấy ngày sau mới tụ hội được một số, tháng 9 lại đem quân về Kinh đô.

Mùa đông năm ấy Trịnh Tuy đem toàn bộ quân Tam phủ từ Tây đô ra cứu.Vì nghe lời ly gián sinh nghi ngờ, Trịnh Tuy giải tán hết các đạo binh của nhà vua,ép vua bỏ Đông kinh lui về Tây kinh.

Đông các Đại học sỹ Vũ Duệ,Lễ bộ Thượng thư Hòang giáp Ngô Hóan cùng với môn đồ thống suất hương binh đi theo Vua Lê Chiêu Tôn đến Thanh hóa,mất liên lạc,không biết Nhà vua ở đâu.Họ đều hướng về Lăng tẩm Lam sơn,bái vọng rồi tự vẫn cả.

Anh em Ngô Khắc Cung,Ngô Thế Bang dẫn quân bản bộ về Yên định .

Năm Thống Nguyên thứ 2 (1523) Mạc đăng Dung sai em là Mạc Quyết đem quân vào đánh Trịnh Tuy.Tháng 7, mạo chiếu Cung Đế phế Chiêu Tôn làm Đà dương Công.

Năm Thống Nguyên thứ 3 (1524) lại sai Mạc Quyết dẫn quân vào Thanh hoá đánh chiếm hết các huyện quận đầu nguồn Tây độ,cùng năm ẩy Trịnh Tuy lâm bệnh chết.

Năm Thống Nguyên thứ tư (1525),tháng tư,Mạc đăng Dung tự làm Đô tướng,dẫncảthuỷ bộ binh mã vào Thanh hoá,Lê chiêu Thống bị bức bách chạy vào động An nhàn,núi Cao trị châu Lang chánh,Đăng Dung tìm đến cướp được vua,giết hết các quan tuỳ tòng không chịu theo hàng họ Mạc,đưa vua về Thăng Long.Được tin này các đạo quân cần vương ở Bắc Giang cũng nhanh chóng tan rã.Đến tháng chạp năm Thống Nguyên thứ 5 (1526) Đăng Dung sai Phạm kim Bảng bí mật giết Lê Chiêu Tôn ở phường Đông hà (Hàng chiếu ngày nay)

Tháng 6 năm sau Mạc đăng Dung vào cung ép Hoàng Đệ Xuân nhường ngôi cho mình,bắt vua và Thái hậu giam vào biệt cung,cắt khẩu phần cơm,để cho chết đói.

An thanh Hầu Nguyễn Kim nghe tin trong triều có biến,chạy ra cửa Đoan môn hô to:”Việc nước như thế,ta thà làm một ông già ở đất Tông sơn,không thể uốn gối nơi thềm rồng thờ lũ nghịch tặc,các ông là thần hạ nhà Lê,có ai theo ta không ?”Mọi người nghe lời biết Nguyễn Kim có chí thủ nghĩa,theo hơn mươi người,đều là người Thanh hoá.Nguyễn Kim dẫn quân bản bộ về Thanh hoá,chiếm cứ vùng Cẩm thuỷ,mưu việc dấy nghĩa phù Lê.

Nguyễn Kim đến huyện Yên định,tìm gặp Ngô thế Bang,khóc nói :”Ngày nay cơ sự đã đến như thế này,chỉ có họ Ngô và họ Nguyễn chúng ta,đời đời khó nhọc giúp rập nhà Lê,thời vua Tương Dực cụ Thanh Quốc công và ông cụ nhà tôi lo việc phế lập,xã tắc mới yên.Nay đến nhường này,tôi tuy làm việc nước,nhưng trong tay không có một tấc sắt,không có một người lính,Tướng công bình sinh là người có đảm lược,được mọi người mến phục,nên đứng ra đương đầu cuộc đại nghĩa này,không nên để cho người khác ra roi trước”.

Ngô thế Bang nói:”Cá anh tôi Ngô khắc Cung ,Ngô văn Bính đã dự đoán trước sự việc tất phải đến như ngày nay,nên đã có sẵn trong tay 3000 quân tinh nhuệ,ruộng tự điền các vị tiên tổ có trên vạn mẫu,đã dự trữ được vài trăm vạn hộc thóc,năm ngoái tôi đã tính việc đưa Hoàng tử Lê duy Ninh lên đất Ai Lao giao cho Lê Lan tìm nơi kín đáo,không có vết chân người qua lại ẩn náu,phòng có người nối nghiệp chính thống sau này.Cháu của tướng Lê Chí là Lê Ý là cháu cô cháu cậu với tôi,là một người trung dũng có đảm lược,có thể đảm đương việc lớn.Những nhà cô gia vọng tộc nhân gia với nhà tôi, không thiếu gì người dám đem thân minh đền nợ nước,vậy xin trước hết hãy bàn bạc với hai anh tôi”.

Nguyễn Kim vào núi tìm gặp Ngô khắc Cung,Ngô văn Bính. Nguyễn Kim hỏi:Quân Mạc mạnh như thế,đánh như thế nào” .Ngô văn Bính nói :Bọn tôi lấy trung nghĩa mà đánh bọn hung tàn,tất bọn Mạc sẽ bị diệt.Anh em tôi có vài ngàn thân binh, các tướng trung dũng có thể đánh Mạc được có trên vài mươi người,hơn nữa người ta căm giận họ Mạc đến tận xương tuỷ, mong chờ nhà Lê như mong được mùa,tướng quân có gì đáng lo ngại.Hôm qua tôi nằm mộng thấy cuộc họp trên thiên đình,ThượngĐế đã uỷ thác việc này cho tướng quân,có vị đại thần xuất ban tâu rằng :Nếu diệt được Mạc này,lai sinh Mạc khác thì sao ? Thượng Đế trầm ngâm hồi lâu rồi nói :Vua Lê suy yếu,đời có tôi mạnh,sao khỏi làm loạn. Nguyễn Kim nói số trời đã như vậy,chỉ nên nghĩ đến việc ngày nay là hơn cả.

Sau ngày Mạc đăng Dung cướp ngôi,một số cựu thần nhà Lê trốn tránh đi các nơi,một số sang Trung quốc tố cáo họ Mạc,một số khác chiêu mộ quân mưu khôi phục nhà Lê.Năm 1528 anh em Trịnh Ngung, Trịnh Ngang khởi nghĩa thất bại ở Thái nguyên.Bích khê Hầu Lê công Uyên cùng Nguyễn thọ Trường khởi binh đánh vào Đông kinh thất bại,chạy vào Thanh hoá chia nhau chiếm đóng các huyện,tự xưng quân nhà Lê,Lê công Uyên dựng cờ chiêu an,nhưng ra quân không có niên hiệu,quân lính ô hợp,khi quân Mạc vào đánh,Dực nghĩa Hầu Lê Thiều sai bộ hạ giết chết Lê công Uyên,các tướng Vân sơn Bá,Thái sơn Bá đều tan vỡ,Thanh Nghệ bị nạn binh lữa mấy năm liền,nhân dân lưu tán,vườn ruộng bỏ hoang.

Năm 1530 Lê Ý khởi binh ở châu Quan gia( Quan hoá ngày nay),lấy niên hiệu Quang Thiệu ( niên hiệu cuối thời Lê Chiêu Tôn) mọi nơi hưởng ứng,kéo về theo rất đông,quân số lên hàng vạn người,lập doanh trại ở thượng lưu sông Mã.Lê Ý truyền hịch khắp Thanh Nghệ kêu gọi nhân dân và cựu thần nhà Lê hưởng ứng phù Lê diệt Mạc.Lê Ý là cháu ngoại vua Lê. Nguyên xưa Đô đốc phủ Tả Đô đốc Bình giang Hầu Lê Tung người hương Lam sơn huyện Thuỵ nguyên lấy Ngô thị Ngọc Vỹ con gái Dụ vương Ngô Từ, sinh Lê Lan,Lê Sử.Lê Sử lấy Nguyễn thị Ngọc sinh Lê Huỳnh,Huỳnh lấy Công chúa An Thái sinh Lê Ý, lại lấy Trần thị Giảng sinh Lê Thị Ngọc Dung,Lê thị Ngọc Phiến.Lê thị Ngọc Phiến lấy Nam Quận công Ngô khắc Cung phong Thái Bình Trường quốc Công chúa.

Tháng tư âm lịch năm ấy Mạc đăng Dung kéo quân vào đánh,Lê Ý đón đánh quân Mạc trên sông Mã,Đăng Dung đại bại phải rút quân,để Mạc quốc Trinh đóng quân lại ở Hà trung. Tháng 8 cùng năm Mạc đăng Doanh lại cất quân vào đánh,chia làm hai đường thuỷ bộ tiến quân,Mạc quốc Trinh dẫn 200 chiến thuyền theo đường sông đi trước,Đăng Doanh chỉ huy bộ binh tiến sau.Thuỷ quân Mạc quốc Trinh theo đường sông vào Yên định,đổ quân lên càn quét Đồng phang,bắt được cô gái Lê thị Ngọc Dung, bị trúng ngụy kế của Ngọc Dung, bị Lê Ý tập kích bất ngờ,thuỷ quân tan vỡ,thu thập tàn quân chạy về Hà trung.Không lâu bộ binh do Mạc đăng Doanh thống lĩnh đến Yên định ,khí thế khá mạnh.

Ngô thế Bang đề xuất kế phá quân Mạc :Thế giặc đang mạnh,ta nên lấy mưu mà thắng, không nên lấy sức mà chọi,ngày mai giao chiến trận đầu hai anh giả thua chạy,em cũng rút lui,sai người mạo biên thơ nói rằng đã bắt được ông ấy,ông ấy…đưa đến viên môn đợi lệnh,xin theo đánh dẹp bọn nhà Lê lập chút công mọn.Nếu bọn chúng nhận hàng thì anh Cung trà trộn trong quân làm nội ứng,quân Mạc dần dần lỏng lẻo,anh Bính đem quân đánh mạnh phía trước, anh Cung và em phá cũi đánh từ trong ra,quân Mạc trong ngoài bị đánh,có thể một trận mà thành công.Ngô khắc Cung khen là diệu kế,bèn chọn Ngô Hoán, Ngô Chi ,Ngô Tùng, Ngô Thái, Ngô Khê,những người có đảm lược lại khéo ăn nói cải trang,đổi tên họ,dẫn ngàn quân đầy đủ khí giới lương thực đến doanh trại quân Mạc xin đầu hàng.Vài ngày sau Lê Ý đem quân đến khiêu chiến ,Ngô Hoán xin đi lập công,Đăng Doanh cho đi.Anh em họ Ngô ra trận Lê Ý giả thua bỏ chạy.Một bộ tướng của Lê Ý dẫn hơn ngàn quân đến doanh trại Mạc xin đầu hàng,Mạc đăng Doanh nhận cho hàng.Vài ngày sau Ngô thế Bang dẫn quân đến khiêu chiến,Bộ tướng của Lê Ý vừa về hàng xin đi lập công,lại thắng một trận to,Mạc đăng Doanh càng chủ quan coi thường.Ngô Hoán đề xuất ý kiến :Các tướng giỏi của nhà Lê chỉ có Bang,nếu bắt được người ấy thì coi như thiên hạ bình định, thần xin lập kế sai người bắt,Điện hạ nghĩ thế nào.Mạc đăng Doanh chấp thuận nói:Công ấy lớn lắm,nhà ngươi thực hiện đi.

Mấy ngày sau có tin ông Nguyễn nào đó dẫn ngàn quân đến xin đầu hàng, có dẫn theo Ngô thế Bang vừa bắt được đến nạp làm lễ tiến kiến.Mạc đăng Doanh sai Ngô Hoán cùng vài tướng ra xem xét rõ thực hư,rồi nhận hàng,đưa Ngô thế Bang ra giữ ở trại sau,chờ đưa về Đông kinh,sai bày tiệc khoản đãi binh sỹ của ông Nguyễn.Đang giũa bữa tiệc,quân Lê Ý và Ngô văn Bính tiến công mạnh mặt trước,Ngô khắc Cung (ông Nguyễn giả trang) phá cũi cho Ngô thế Bang,cùng mấy ngàn quân trá hàng trước,đánh loạn ẩu từ trong ra,quân Mạc rối loạn vì quá bất ngờ,bị chém chết không biết bao nhiêu mà kể,Mạc đăng Doanh đại bại,vội vàng thu quân về bắc,để Mạc quốc Trinh lại giữ Hà trung.

Nhân đà thắng Lê Ý chiếm Tây đô,cuối năm vì hết lương, phải đem quân về châu Quan gia.Thắng luôn mấy trận,Lê Ý sinh chủ quan khinh địch,hàng ngày cho quân lính vào núi vận lương,doanh trại bỏ trống ,phòng bị sơ sài.

Ở Hà trung,Mạc quốc Trinh nắm rõ tình hình, kéo quân tập kích,Lê Ý bị bắt sống đưa về Đông kinh,quân sỹ tan vỡ,số lớn trở về quê làm ruộng,một số chạy sang với Nguyễn Kim.Lực lượng Nguyễn Kim đFược tăng nhanh,đem quân sang đóng nhờ đất Ai Lao,vua Sạ Đẩu Ai Lao cho đóng quân ở Sầm nứa,lúc này Nguyễn Kim đã có hơn 3000 quân,300 ngựa,30 thớt voi..

Anh em Ngô khắc Cung cùng đem quân sang Ai Lao hợp với quân Nguyễn Kim,tìm Hoàng tử Lê duy Ninh tôn lập làm vua, lấy niên hiệu Nguyên Hoà năm thứ nhất(1533),Nguyễn Kim làm Thái sư Hưng quốc Công, phát tang vua Lê Chiêu Tôn.Sau ngày tôn lập vua mới,Nguyễn Kim dẫn quân theo dòng sông Chu về đánh chiếm huyện Lôi dương,tiến chiếm huyện Đông sơn.Mùa thu năm sau (1534) quân Mạc vào đánh,Nguyễn Kim thua, phải rút quân về Sầm nứa.

Đầu năm 1539,vua Lê phong Trịnh Kiểm,Ngô khắc Cung,Ngô văn Bính, Ngô thế Bang đều làm Đô tướng ,trao ấn tín,cùng nhau kéo quân về đánh chiếm được huyện Lôi dương.

Ở Lôi dương Nguyễn văn Bính nhớ quê hương trước đây bị quân Mạc tàn phá,về thăm,nhiễm bệnh từ trần ở Đồng phang thọ 68 tuổi.Cuối năm sau (1541) Ngô khắc Cung cũng từ trần.Cuối năm 1543 Nguyễn Kim ở Ai Lao kéo quân về Nghệ an,rồi ra Thanh hoá,quân Mạc thua liên tục.Cuối năm ấy Nguyễn Kim chiếm được Tây đô,tướng Mạc trấn giữ Tây đô là Dương chấp Nhất đầu hàng.Từ đó đất Thanh Nghệ trở thành giang sơn riêng của vua Lê,thực chất là của Nguyễn Kim và sau này là của họ Trịnh và cũng từ đó hình thành Nam Bắc triều,một nước hai vua,hai triều đình, đánh nhau liên miên mấy chục năm liền.

Copyright 2013 © HỘI GIA PHẢ HỌ NGÔ
Email: info@giaphahongo.com
Đang online: 19
Lượt truy cập: 328877
Designed & Powered by TOPSITE VIỆT NAM