Sự kiện
Giới thiệu về phả hệ họ Ngô Việt Nam
 
GIỚI THIỆU VỀ PHẢ HỆ HỌ NGÔ VIỆT NAM

Lịch sử họ NGÔ Việt Nam do cụ Ngô Đức Thắng biên soạn đã xuất bản năm 1994.Đây là một công trình Phả ký rất công phu đã viết tới lần thứ ba,từ Khởi tổ tới ngày nay hơn bốn mươi đời,gồm nhiều dòng,chi cư trú ở nhiều địa phương trong cả nước.Sau khi xuất bản cuốn Phả,có nhiều dòng họ NGÔ bắt liên lạc để tìm về cội nguồn.Đến tháng 10 năm 1995,đã có 21 dòng,chi cư trú tại 185 xã,phường thuộc 87 huyện,quận của 24 tỉnh,thành phồ nhận Họ.Và chỉ trong mấy tháng cuối năm,có thêm gần 50 dòng họ nữa gửi thư tới bắt liên lạc.

Nghiên cứu một cuốn gia phả lớn như vậy đòi hỏi nhiều công phu mới thấy được mối quan hệ giữa các dòng,chi,nhất là về thế thứ.Để tổng hợp lại vừa có hệ thống,vừa đơn giản,dễ thấy,chúng tôi dựng Phả hệ theo các bảng,được cụ Ngô Đức Thắng tham gia hiệu đính.

Phả hệ họ NGÔ Việt Nam được trình bày thành 16 bảng kẻ phân chia như sau:

1.Phả hệ họ NGÔ Việt Nam từ Khởi tổ tới đời thứ 19 và 15(bảng I):từ Khởi tổ tới đời thứ 8 thì phân thành hai dòng:Ngô Xương Sắc và Ngô Ích Vệ,con Sứ quân Bình Kiều Ngô Xương Xí,cháu nội Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập,chắt nội Tiền Ngô Vương.Sau loạn Thập nhị sứ quân,Ngô Xương Sắc và Ngô Ích Vệ phải ẩn cư.

Ngô Xương Sắc vào châu Ái (Thanh Hóa),truyền tới đời 18,19 là Ngô Kinh,Ngô Từ là Bình Ngô khai quốc công thần triều Lê.Con cháu của Ngô Kinh,Ngô Từ trở thành Thủy tổ của nhiều dòng họ Ngô hiện nay,đã tới đời thứ trên dưới 40.

Ngô Ích Vệ ẩn cư vào châu Hoan (Nghệ An) đổi tên An Ngữ,sau ra Thăng Long đầu triều Lý làm võ quan,sinh hai con trai là Ngô Tuấn (Lý Thường Kiệt) và Ngô Chương (Lý Thường Hiến).Đến đời thứ 15 có Ngô Bệ cầm đầu cuộc khởi nghĩa Yên Phụ ở Kinh Môn-Hải Dương (1344-1360)cuối đời Trần.Cuộc Khởi nghĩa thất bại,gia tộc bị đàn áp phải trốn tránh,mai danh ẩn tích nên bị thất truyền.Đến gần đây có điều kiện đối chiếu các bản Phả nên đã chắp nối được một số dòng.

2.Phả hệ các dòng hậu duệ của Ngô Kinh,Ngô Từ từ đời 20 đến đời 30-32 (thế kỷ XV-XVIII).Đến nay đã lập được Phả hệ của 20 dòng (các bảng 2 đến 11).Nhưng cũng còn một số dòng bị thất truyền chưa tìm được.

-Điện Bàn Hầu NGÔ HỒNG (đời 20) con Dụ Vương Ngô Từ,là Thủy tổ các dòng họ Bình Ngô,Nam Ngạn,Vĩnh Lộc (Thanh Hóa),Tam Sơn (Đông Ngàn-Bắc Ninh)…đã tới đời 38-39 .Hiện đang tiếp tục nghiên cứu thế thứ.(Bảng 2)

-Tây Quận công NGÔ CÔNG TÍN (đời 21),con trai Thanh Quốc công Ngô Khế,cháu nội Dụ Vương Ngô Từ,là Thủy tổ các dòng Bách Tính,Quỹ Đê (Nam Định)…đã tới đời 38-39.(Bảng 2)

-NGÔ SỬ TOÀN (đời 21) lánh nạn đổi NGÔ NGUYÊN,con Thanh Quốc công Ngô Khế,là Thủy tổ dòng Vọng Nguyệt (Yên Phong-Bắc Ninh) đã tới đời 37-38. (Bảng 3)

-NGÔ ĐỊNH (đời 22) con NGÔ NGUYÊN,là Thủy tổ dòng Lý Trai-Đông Thành-Nghệ An (nay là Diễn Kỷ-Diễn Châu) và Thịnh Liệt-Hà Nội,đã tới đời 39-40.(Bảng 3)

-NGÔ SỬ HẬU (đời 21) lánh nạn đổi NGÔ PHÚC CƠ,con Thanh Quốc công Ngô Khế,là Thủy tổ dòng Ngô Thời-Tả Thanh Oai-Hà Đông (nay là Thanh Trì-Hà Nội) và một số dòng ở Hưng Yên,Hà Đông,Hà Nội,Thừa Thiên,…đã tới đời 38-39.(Bảng 4)

-NGÔ BÁ DI (đời 21) lánh nạn đổi NGÔ HẢI SƠN con Thanh Quốc công Ngô Khế,là Thủy tổ dòng Tam Sơn-Đông Ngàn-Bắc Ninh,có một số dòng chuyển sang Đông Anh,đã tới đời 38-39.(Bảng 4)

-NGÔ NGỮ (đời 21) con Thanh Quốc công Ngô Khế,là Thủy tổ dòng Địch Lễ-Nam Trực-Nam Định,đã tới đời 38-39.Phả bị thất lạc,chỉ còn ghi các ngày giỗ,kỵ.(Bảng 5)

-NGÔ LỢI (đời 21) lánh nạn đổi NGÔ NƯỚC,con Thanh Quốc công Ngô Khế,là Thủy tổ dòng Trảo Nha-Hà Tĩnh và 41 dòng,chi ở nhiều xã thuộc Hà Tĩnh và nhiều tỉnh như Nam Định,Hải Dương,Hà Nội,Thanh Hóa,Nghệ An,Quảng Bình,Quảng Nam,Quảng Ngãi,Bình Định,An Giang…,đã tới đời 40-41.(Bảng 5,6)

-Thụy Quận công NGÔ VĂN BÍNH (đời 21)con Thanh Quốc công Ngô Khế,là Thủy tổ dòng Đồng Phang 1 và một số dòng Bái Dương (Nam Định),Võ Giàng (Bắc Ninh)…,đã tới đời 37-38.(Bảng 6)

-Nam Quận công NGÔ KHẮC CUNG (đời 21) con Thanh Quốc công Ngô Khế,là thủy tổ dòng Đồng Phang 2 và một số dòng ở Hà Trung (Thanh Hóa),Trình Phố,Minh Giám (Thái Bình),Phạm Xá,An Nông (Nam Định),…đã tới đời 36-37.(Bảng 8)

-Dực Quận công NGÔ THẾ BANG (đời 21) con Thanh Quốc công Ngô Khế,là Thủy tổ dòng Đồng Phang 3 và một số dòng ở Bắc Ninh,Bắc Giang…đã tới đời 38-39.(Bảng 9)

-NGÔ THẾ THÁI (đời 21) con Thanh Quốc công Ngô Khế,là Thủy tổ dòng An Mô-Quảng Trị.(Bảng 9)

-Huệ Quốc công NGÔ NẠP (đời 20) con Dụ Vương Ngô Từ,là Thủy tổ dòng Diễn Hạnh-Diễn Châu,và nhiều dòng,chi ở Diễn Châu,Yên Thành,Quỳnh Lưu,Nghĩa Đàn,và ở Thái Bình,Hà Nội,đã tới đời 36-37.(Bảng 10)

-Đức Quận công NGÔ HỘ (đời 20) con Dụ Vương Ngô Từ,là Thủy tổ dòng Thượng Phúc-Thường Tín.(Bảng 11)

-Thượng tướng quân NGÔ LƯƠng (đời 20)con Dụ Vương Ngô Từ,Thủy tổ dòng Nghĩa Trai.(Bảng 11)

-Tề Quốc công NGÔ HỰU (đời 20) con Dụ Vương Ngô Từ,là Thủy tổ dòng Yên Dũng (nay là Việt Yên-Hà Bắc).(Bảng 11)

-Hoa Quốc công NGÔ ƯNG (NHẠN) (đời 20),con Dụ Vương Ngô Từ,có thể là Thủy tổ các dòng ở Duy Xuyên Điện Bàn-Quảng Nam.(Bảng 11)

-Nghi Quận công NGÔ THẦM (TRẦM) (đời 20)con Thận Quận công Ngô Khiêm,là Thủy tổ họ Quảng Thị-Thanh Hóa.(Bảng 11)

-Sùng Quốc công NGÔ XUYẾN (đời 20),con Đô Đốc Thượng tướng quân Ngô Đam,là Thủy tổ dòng họ Ngọc Giả Nam Trực-Nam Định (Hoa dương Hầu Ngô Phúc Chung là con Sùng Quốc công Ngô Xuyến).(Bảng 11)

3.Dòng NGÔ ÍCH VỆ (AN NGỮ)(đời thứ 8)thất truyền sau cuộc Khởi nghĩa của NGÔ BỆ,đến nay chắp nối được 4 dòng:

-Ngô Bắc Biên-Ngọc Thụy-Gia Lâm,nơi có nhà thờ Ngô Tuấn-Lý Thường Kiệt.Hậu duệ dòng trưởng hiện nay là Ngô Đức Nhuần.Hiện đang nghiên cứu chỉnh lý Phả hệ vì bị mất Phả gốc.

-Ngô Vi-Tả Thanh Oai Hà Đông (nay thuộc hà Nội):Thủy tổ là Bồ Đốc công(có thể là đời thứ 16),có một số chi chuyển tới Quốc Oai (Sơn Tây),Vĩnh Phú,Hà Nam,đã tới đời 39-40-(Bảng 12)

-Ngô Lạc Nghiệp-Giao Thủy-am Định.Thủy tổ là Ngô Luyện(có thể là đời thứ 17),có một số dòng chuyển về An Dương (Hải Phòng),Sơn Dương (Tuyên Quang),Đồng Hỷ (Thái Nguyên),đã tới đời 35-36.(Bảng 12)

-Ngô Quang-phướng Thái Hòa (nay là Ngọc Hà -Hà Nội),có một số dòng chuyển về Kiến Xương,Tiền Hải (Thái Bình).(Bảng 12)

Còn một số dòng ở Thanh Hóa,Quảng Trị,…đang tiếp tục nghiên cứu chắp nối.

4.Từ 24 dòng như kể trên,đến nay đã phát triển thành hơn 250 dòng,chi cư trú tại nhiều địa phương.Các bảng Phả hệ chỉ viết tới khoảng đời 30-32.Từ đó trở đi,nhiều dòng đã viết tiếp,nhưng cũng còn một số dòng chưa viết.Chúng tôi chưa có đủ tư liệu để viết tiếp,vả lại cũng rất khó khăn vì họ Ngô ta phát triển quá rộng.Cho nên chúng tôi tạm dừng ở đây,hoàn chỉnh tư liệu để viết”THẾ PHẢ HỌ NGÔ-VIỆT NAM” từ Khởi tổ(thế kỷ VIII) tới khoảng đời thứ 30(thế kỷ XVIII).Còn khoảng 10 đời gần đây,đề nghị các dòng,chi sưu tầm tư liệu và viết,để tiếp nối với Phả hệ và Thế phả chung.

Trong việc xây dựng Phả hệ,chúng tôi đã nghiên cứu đối chiếu nhiều tư liệu,đã sửa lại một số điều đã viết trong các cuốn Lịch sử họ Ngô đã in trước đây.Nhưng nhất định vẫn có nhiều thiếu sót.Rất mong được sự đóng góp ý kiến của các dòng họ Ngô trong cả nước,để chúng tôi có thể sửa chữa,chỉnh lý,để sớm viết được THẾ PHẢ HỌ NGÔ VIỆT NAM.

Ngày 6 tháng Giêng năm Bính Tý

(24 tháng 2 năm 1996)

Copyright 2013 © HỘI GIA PHẢ HỌ NGÔ
Email: info@giaphahongo.com
Đang online: 12
Lượt truy cập: 389689
Designed & Powered by TOPSITE VIỆT NAM