Sự kiện
Phát tích Ái Châu - Ngô Vương dựng nước
 
Phả cũ chép :” Tiên tổ Ngô nhật Đại quán Ái châu, dĩ nông nghiệp khởi, sinh Ngô nhật Dụ”.Phả xưa ghi chép cụ Ngô nhật Đại là người đầu tiên, như vậy xa xưa hơn về trước chưa có phả.

Phát tích Ái châu

Phả cũ chép :” Tiên tổ Ngô nhật Đại quán Ái châu, dĩ nông nghiệp khởi, sinh Ngô nhật Dụ”.Phả xưa ghi chép cụ Ngô nhật Đại là người đầu tiên, như vậy xa xưa hơn về trước chưa có phả.

Ngô nhật Dụ hiếu học, vừa lúc quan đô hộ phương bắc truyền bá chữ Hán vào đất Việt,Ngô nhật Dụ theo học trở thành thông nho,người Trung quốc mời vào làm Liêu tá trong phủ đô hộ.Từ đó này càng phồn thịnh.

Truyền nối đến Ngô đình Thực là Hào trưởng (thời đó Hào trưởng là người giàu có, có uy thế trong vùng).Ngô đình Thực sinh Ngô đình Mân.

Ngô đình Mân theo nho học,thành đại nho gia, du học vào cửa Sót,khi đã cao tuổi lên Đường lâm, lấy bà Phùng thị Tịnh Phong,con Phùng Hải, cháu Phùng Hưng (Bố cái đại vương),ông bà sinh hai con trai Ngô Quyền và Ngô Tịnh.

Ngô đình Mân làm Phong châu Mục thời Khúc thừa Hạo làm Tiết độ Sứ.

Về sau Ngô Quyền vào châu Ái làm nha tướng cho Dương diên Nghệ,Ngô Tịnh làm Trấn thủ Kỳ hoa,sinh năm con trai đều là Châu mục,Hào trưởng, Tăng thống,nhưng đều thất truyền.

Tất cả các dòng họ Ngô ở Việt nam đã liên lạc được cho đến nay đều là dòng dõi Ngô Quyền.

Ngô Quyền sinh ở Đường lâm ngày 12 tháng 3 năm đinh tỵ (897),mất tại Cổ loa ngày 18 tháng giêng năm giáp thìn (944),thọ 47 tuổi,mộ táng ở thôn Cam lâm quận Đường lâm nay là xã Đường lâm thuộc thị xã Sơn tây .Tiên lăng hậu miếu,là khu Di tích lịch sử văn hoá.

Ngô Quyền có dáng người như cọp,tiếng nói như sấm,mắt sáng như chớp,khi sinh ra sau lưng có ba nốt ruồi,có người thầy tướng tiên đoán:”Người này ngày sau ắt làm vua trị vì thiên hạ”. Lớn lên có sức khoẻ cử đỉnh,văn võ song toàn.Vào độ tuổi 20,cha mẹ đã từ trần,Ngô Quyền vào châu Ái xin làm nha tướng cho Dương diên Nghệ.Thấy người có tài có đức,Dương diên Nghệ gả con gái Dương thị Như Ngọc cho làm vợ.Dương thị Như Ngọc sinh Ngô xương Ngập,Ngô xương Văn.

Làng Yên nhân huyện Chương mỹ có ngôi đền thờ bà Dương Phương Lan có bia đá ghi:“Trên đường đi vào châu Ái,qua đất Thượng phúc,gặp người con gái Dương Phương Lan,cùng Ngô Quyền kết thành vợ chồng cùng nhau vào châu Ái,Dương diên Nghệ nhận cả hai làm con nuôi”.Sau ngày lên ngôi vua, Ngô Vương còn có thêm hai con trai Càn Hưng và Nam Hưng,chưa rõ bà nào sinh,cả hai đều thất truyền.

Ngô Vương dựng nước

Nước Lạc Việt xưa gồm 15 tộc Việt sống bằng nghề nông ở phía nam sông Trường giang,là một bộ phận của các tộc Việt mà các nhà sử học Trung quốc xưa gọi là Bách Việt. Từ một nước Văn Lang,lúc bấy giờ chưa có địa giới rõ rệt,trung tâm là Bạch hạc của 18 triều đại Hùng Vương kéo dài gần 3000 năm,cho đến đời cuối cùng thuộc triều đại Hùng Vương thứ 18,vì vua mải ham chơi,sao nhãng việc nước,để mất nước vào tay Thục Phán,một người dòng dõi của vua Thục ở Tứ xuyên bên Trung quốc.

Thục Phán làm vua xưng An Dương Vương,dựa vào có Loa thành kiên cố,ỷ vào võ bị, mất cảnh giác bị Triệu Đà thôn tính,sát nhập đất Âu lạc của An Dương Vương vào nước Nam Việt của Triệu Đà. Nhà Triệu thống trị được 70 năm, bị tướng nhà Hán Lộ bác Đức đánh diệt.Từ thuộc Triệu đất nước ta chuyển sang thuộc Hán (năm 41 trước công nguyên).Từ đó về sau hết Hán đến Tần,qua đời Lục triều, nhà Tuỳ,nhà Đường, đến đời Ngũ Quý đều bị chia thành quận huyện để cai trị,ngót một ngàn năm coi như đất Trung quốc.

Trong khoảng thời gian dài đó nhiều người nổi lên xưng hùng,chống đánh quân quan cai trị, nhưng không ai được lâu,đất nước vẫn bị nội thuộc các triều đại Trung quốc.

Năm 618 vua Đường thay nhà Tuỳ xây dựng chế độ quân chủ thống nhất ở Trung quốc,ở thuộc quốc đặt chế độ Đô hộ phủ .Giao châu được đổi thành An nam Đô hộ phủ, được cai trị bằng võ lực,có lúc đổi gọi Trấn nam,áp dụng chế độ quân quản.Chia cả nước thành 12 châu (trong đó có 5 châu là đất Lưỡng Quảng ngày nay).Cả 12 châu chia thành 52 huyện,vùng thượng du người thiểu số đặt châu Kỵ mỵ (Ràng buộc),người đứng đầu được thế tập (cha truyền con nối).Châu có Thứ sử,huyện có Huyện lệnh, chia thành hương hoặc xã để cai trị.

Cùng trong quá trình bắc thuộc, người Việt chịu nhiều ảnh hưởng của những chuyển biến lớn bên Trung quốc, địa chủ Việt hình thành,đại địa chủ Trung quốc phát triển trên đất Việt,Tù trưởng vùng thượng trở thành chúa đất.Đa số dân bị bần cùng hoá,nông nô gia nô, nô tỳ ngày càng đông,Hào trưởng có nhà có hàng ngàn gia nô.Phật giáo thịnh hành,chùa chiền tự viện được ưu đãi,con cháu phú hào vào ở chùa ngày càng nhiều,càng có thế lực.Chế độ khoa cử được áp dụng,con nhà giàu được học hành thi cử,uy thế được nâng cao, ý thức làm chủ đất nước càng mãnh liệt.

Cuối thế kỷ thứ 9,bên Trung quốc Hoàng Sào nổi dậy kéo dài 10 năm (875-885), vua nhà Đường phải chạy vào Tứ xuyên.Khúc thừa Hạo, một Hào trưởng ở Hồng châu,nhân thời cơ nổi dậy đánh đuổi quan quân đô hộ, tự lập làm Tiết độ sứ,sai sứ sang truyền báo, vua nhà Đường phải chấp nhận.Một năm sau nhà Đường mất,Chu Ôn lập nhà Hậu Lương.Trải hơn 50 năm, Lương, Đường, Tấn, Hán, Chu thay nhau làm vua Trung quốc,xung quanh đất đai bị chia cắt,10 nước chia nhau cát cứ (Sử Trung quốc gọi là thời Ngũ đại và Thập quốc 892-972).Các tập đoàn phong kiến Trung quốc bận đối phó trong nước, đất nước ta tạm thời yên ổn.

Năm 907 Khúc thừa Dụ chết,Khúc thừa Hạo lên thay làm Tiết độ sứ ra sức sửa sang chế độ, lo việc tự cường, thực hiện nhiều cải cách lớn.Những việc làm đó đã tạo điều kiện cho Ngô Quyền sau này.

Khúc thừa Hạo chết,Khúc thừa Mỹ kế vị,lúc bấy giờ đang quan hệ bang giao với nước Nam Hán,một nước cát cứ ở nam Trung quốc giáp giới với nước ta.Muốn lợi dụng mâu thuẫn giữa Hậu Lương và Nam Hán để giữ vững đất nước,Khúc thừa Mỹ sai sứ giao hiếu với nhà Hậu Lương,vua Nam Hán tức giận, sai tướng Lý khắc Chính đem quân sang đánh bắt được Khúc thừa Mỹ đem về Quảng châu,cử Lý Tiến sang làm Thứ sử cùng Lý khắc Chính chiếm đóng đặt lại ách đô hộ.

Dương diên Nghệ nha tướng của Khúc thừa Hạo ở châu Ái, muốn kế tục sự nghiệp của họ Khúc, ra sức chiêu mộ binh sỹ, giả danh “hội vật” che mắt quan đô hộ, vài năm tuyển chọn được 3000 quân quyết tử,sai Ngô Quyền làm tiên phong,kéo quân ra đánh Lý Tiến.Lý Tiến cấp báo về Quảng châu xin quân cứu viện.Viện binh chưa kịp đến,Lý khắc Chính bị giết,Lý Tiến chạy thoát về Quảng châu.Viện binh Nam Hán đến,định bao vây phủ thành,Ngô Quyền đem quân ra ngoài tập kích, giết được chủ tướng viện binh Trần Bảo,quân Nam Hán tổn thất nặng nề phải rút về nước.

Năm 931 Dương diên Nghệ tự lập làm Tiết độ sứ,sai Ngô Quyền vào trấn thủ châu Ái.Được 7 năm,Dương diên Nghệ bị nha tướng là Kiều công Tiện đầu độc cướp quyền.Để giữ vững địa vị bất chinh khỏi bị lung lay,Công Tiện quy hàng Nam Hán.Ở Ái châu được tin Kiều công Tiện đầu hàng Nam Hán, Ngô Quyền thấy rất nguy hại cho sự nghiệp giải phóng dân tộc mà bao năm họ Khúc họ Dương mưu đồ,muốn cất quân ra hỏi tội,đang phân vân tính kế.Bà Dương thị Như Ngọc khuyên:”Loạn thần Kiều công Tiện phản nghịch, dấy binh hỏi tội là việc cấp thiết, còn gì phải đắn đo”.Ngô Quyền nói,việc đó dĩ nhiên,chỉ hiềm quân Nam Hán đang mạnh,lực lượng của ta còn qúa mỏng,phải trù liệu kỹ càng.Bà nói:“Phản tặc dâng nước cho Nam Hán, nhân dân sẽ điêu đứng,ta dựng cờ đại nghĩa dẹp lũ hung tàn đưa muôn dân thoát khỏi vòng lầm than khổ ải,mọi người sẽ hưởng ứng,tướng sỹ sẽ về theo,lo gì lực lượng mỏng”.

Bảy năm trấn thủ châu Ái, Ngô quyền được lòng dân,mọi người cảm mến.Hành động phản nghịch của Kiều công Tiện gây căm thù sâu sắc trong mọi từng lớp nhân dân, lòng người hướng về Ngô Quyền,Công Tiện bị cô lập, ngay em Công Tiện là Kiều công Hãn cũng theo Ngô Quyền.

Ngô Quyền quyết định phải trừ nội phản trước khi ngoại xâm chưa vào kịp,chuẩn bị cấp tốc nhưng cũng mất hơn một năm.Mùa thu năm 938 đoàn quân từ châu Ái tiến ra diệt Kiều công Tiện,chuẩn bị đối phó với quân Nam Hán.

Lúc bấy giờ vua Nam Hán Lưu Nham nhân cơ hội Công Tiện cầu viện,mưu đem đại binh sang đánh chiếm luôn Giao châu,đặt lại ách thống trị,tự mình thân chinh cầm quân,nhiều đại thần can ngăn không nghe,sai con Hoằng Tháo dẫn gần ngàn chiến thuyền vượt biển sang trước làm đạo tiên phong,tự mình dẫn đại đội binh mã đến đóng ở biên giới làm hậu thuẩn.Lưu Nham chắc mẫm lần này sẽ chiếm nhanh gọn Giao châu, phong trước cho Thái tử Hoằng Tháo làm Giao Vương.

Cuối mùa thu năm ấy,Ngô Quyền bố trí lực lượng chặn đánh quân Nam Hán,quyết tâm đánh tiêu diệt lực lượng tinh nhuệ của địch, đập tan ý chí xâm lược của người phương bắc,bèn bố phòng chặt chẽ các ngả quân Nam Hán có thể xâm nhập.Được tin Hoằng Tháo tiến theo đường biển,Ngô Quyền nhận định:Hoằng Tháo là tướng kiêu dũng,quân đông,chiến thuyền lớn,nhưng là tướng trẻ tuổi mới cầm quân,chưa có kinh nghiệm.Lưu Nham tuy lão luyện,nhưng chưa dám đi xa đất nước trong khi cơ sở trong nước chưa vững.Có thể đánh một trận tiêu diệt lực lượng tinh nhuệ đập tan ý chí xâm lược của Lưu Nham.Thuỷ quân Nam Hán tất phải vào sông Bạch đằng,bèn chọn đoạn sông từ Lục đầu giang đổ về, chảy ra cửa Nam triệu, phía nam là huyện Hải yến tỉnh Kiến an,phía bắc là huyện Yên hưng tỉnh Quảng yên,hai bên sông núi cao dựng đứng cây cối xum xuê,có nhiều ngõ lạch cây cối che phủ sầm uất,thuận lợi cho việc mai phục khinh thuyền.Đoạn sông này gần cửa biển thuỷ triều lên xuống rất mạnh,độ chênh lệch giữa hai ngọn triều lên đến 5,6 thước(thước xưa).Bèn sai lấy gỗ đẽo nhọn bịt sắt, nhân khi thuỷ triều rút xuống thấp nhất cắm giữa dòng sông thành bãi cọc nhiều lớp.Các đội khinh thuyền mai phục trong các kênh lạch phía thượng nguồn, khi có hiệu lệnh thì cùng lao ra diệt địch.Trên bờ mai phục bộ binh phối hợp và lại có nhiệm vụ đón bắt những toán quân địch bỏ thuyền lên bộ tháo chạy.Dương thị Như Ngọc,Ngô xương Ngập, Dương tam Kha đều có dự trận chiến.

Tương truyền, Ngô Quyền chọn vùng Kê lạc tổng Nghĩa chế (Tên xưa gọi là Kẻ lác,nay là vùng Quán rác thị trấn huyện Phù tiên tỉnh Hải hưng) làm nơi luyện quân thuỷ, đốn gỗ bịt sắt, khai thông các kênh lạch chuyển đến trận địa (cách xa hơn 30 dặm đường).

Chuẩn bị trận địa vừa xong,chiến thuyền Hoằng Tháo đi đến gần cửa Nam triệu dự định nghỉ ngơi một ngày rồi mới vào sông Bạch đằng.Ngô Quyền dùng kế sai Kiều Thuận trá hàng xin theo Hoằng Tháo trả thù nhà (Kiều Thuận là con trai Kiều công Tiện đã quy thuận Ngô Quyền).Kiều Thuận dùng thuyền nhỏ lẻn ra gặp Hoằng Tháo,trình bày sai lạc lực lượng và kế hoạch phòng thủ của Ngô Quyền,Hoằng Tháo càng chủ quan coi thường.Vừa lúc đoàn khinh thuyền quân Việt tiến ra khiêu chiến,chưa kịp nghỉ ngơi,Hoằng Tháo hạ lệnh dàn trận bao vây hòng tiêu diệt lực lượng quân ta tại chổ.

Quân ta vừa đánh vừa lùi dần vào cửa sông.Nhân đà thuỷ triều lên,Hoằng Tháo ra lệnh cho chiến thuyền ào ạt đuổi theo,quân ta vừa khiêu khích vừa lui nhanh.Nước triều lên mạnh, chiến thuyền Nam Hán đuổi gấp, vượt đã khá xa qua bãi cọc nhọn lúc đó còn ẩn sâu dưới mặt nước.

Thuỷ triều chợt xuống,chiến thuyền quân Việt quay mũi phản công quyết liệt.Từ mọi ngõ ngách kênh lạch quân phục nhất tề lướt ra tấn công dữ dội quân Nam Hán.Hoằng Tháo biết là trúng kế, ra lệnh cho chiến thuyền rút lui.Thuỷ triều xuống mạnh,nước chảy xiết, chiến thuyền nặng khó hãm tốc độ,cọc nhọn bịt sắt đã nhô lên gần mặt nước,chiến thuyền Nam Hán va vào cọc tan vở, ùn lại va vào nhau mà chìm vô số.Tướng sỹ phần bị giết, phần chết đuối không kể xiết.Hoằng Tháo cũng bị chết đuối,còn bao nhiêu thoát được,chuồn ra biển về nước.Lưu Nham được tin báo vội vàng cuốn cờ rút quân về nước,hổ thẹn vì cuộc viễn chinh thất bại nhục nhã, bỏ tên Lưu Nham,đổi là Lưu Cung.

Chiến thắng Bạch đằng quyết định việc dựng nền độc lập tự chủ thống nhất đất nước muôn đời về sau của dân tộc Việt nam,sau hơn một mgàn năm làm nô lệ,bị nước lớn phương bắc thống trị.

Sau ngày chiến thắng,Ngô Quyền bắt tay vào việc xây dựng nền móng của một quốc gia độc lập tự chủ.Đầu năm 939 định đô ở Cổ loa,đất cũ Loa thành,thể theo các triều đại bên Trung quốc nhưng có châm chước,đặt quan chế,định triều nghi phục sắc cho các quan văn võ,tự xưng Ngô Vương,phong Dương thị Như Ngọc làm Đệ Nhất Tiêu cung,phong tước lộc,cấp thái ấp cho tướng sỹ có công như Đinh công Trứ ở châu Hoan,Lê Lương ở châu Ái,Phạm bạch Hổ ở Nam sách v.v…Các hào trưởng, tù trưởng các nơi kính sợ vị anh hùng đánh thắng quân Nam Hán,thảy đều quy phục chịu mệnh lệnh,cả nước yên hưởng thái bình.

Ngô Vương ở ngôi được 6 năm nhiễm bệnh từ trần.

Các nhà sử học xưa gọi là triều đại Tiền Ngô Vương.

Loạn Dương Tam Kha ( 945-950)

Cuối năm 944, Ngô Vương Quyền từ trần,để ngôi cho con trưởng Ngô Xương Ngập do cậu là Dương Tam Kha phụ chính.Dương Tam Kha thừa thế cướp lấy ngôi của cháu,tự xưng Bình Vương.Ngô Xương Ngập phải chạy trốn về Nam Sách tìm đến nương nhờ người tôi trung của cha là Phạm Chiêm (Phạm Lệnh công) tại Trà Hương .Mấy lần Dương Tam Kha sai quân truy bắt,nhờ Phạm Lệnh công đem dấu vào trong núi,nên thoát khỏi bị cậu bắt giết.Ngô Xương Văn còn ít tuổi được nuôi trong cung,Tam Kha nhận làm con nuôi.Càn Hưng, Nam Hưng được ra ngoài ở với mẹ đẻ.

Thấy Dương Tam Kha cướp ngôi nhà Ngô, nhiều cựu thần nhà Ngô và hào trưởng địa phương không phục,tiếp nhau nổi lên cát cứ xưng hùng,không phục tùng mệnh lệnh,mầm loạn Thập Nhị sứ quân bắt nguồn từ đó.Nổi lên trước nhất là Trần Lãm,một Đại địa chủ ở miền cửa biển Bố Chính (nay là xã Kỳ Bố huyện Vũ Tiên tỉnh Thái Bình,xưa biển vào đến đó). Trần Lãm chết, bộ tướng là Đinh Bộ Lĩnh lên thay (Bộ Lĩnh là con Đinh Công Trứ,Châu mục Châu Hoan thời Dương Diên Nghệ).Đinh Bộ Lĩnh đem quân về Hoa Lư nơi quê nhà, có thể dựa vào thế hiểm của rừng núi để tự thủ cũng như để chiêu tập binh mã phát triển lực lượng.

Những người cát cứ khác có Kiều Công Hãn,Kiều Thuận, Nguyễn Khoan,Nguyễn Thủ Tiệp,Nguyễn Siêu (là ba anh em ruột), Lý Khuê,Lữ Đường,Phạm Bạch Hổ.Về sau các nhà sử học xếp Ngô Xương Xý, Ngô Nhật Khánh,Đổ Cảnh Thạc vào nữa thành 12 Sứ quân.

Năm 950 Bình Vương sai Ngô Xương Văn cùng hai tướng Đổ Cảnh Thạc và Dương Cát Lợi đem quân đi đánh hai họ Đường, Nguyễn ở đất Thái Bình (thuộc Sơn Tây ngày nay).Hành quân nửa đường đến đất Từ Liêm,Ngô Xương Văn bảo hai tướng rằng:”Đức trạch của Tiên vương ta thấm khắp lòng dân,tất cả các chính lệnh không ai là không vui lòng cả.Chẳng may Tiên vương ta mất đi.Bây giờ Bình vương là kẻ bất nghĩa,tự cướp lấy ngôi,còn tội gì hơn nữa?Nay lại sai chúng ta đi đánh các ấp vô tội kia,may mà được đã vậy,nếu họ không phục thì làm thế nào?” Hai tướng trả lời:”Tướng quân bảo sao chúng tôi cũng xin vâng mệnh”.Xương Văn bảo:”Ý tôi muốn đem quân quay về đánh úp Bình vương để phục lại cơ nghiệp của Tiền nhân,có nên không?”Hai tướng đều lấy làm phải.Bèn cùng nhau quay binh về phế bỏ Bình vương.Các tướng bàn nên giết đi,Xương Văn nói người ấy với tôi có chút tình nghĩa, nên không giết,giáng xuống làm Chương Dương sứ,cấp ruộng đất sinh sống.Tam Kha tiếm ngôi 6 năm.

Sau khi thành công khôi phục nhà Ngô,Xương Văn sai người đến Trà Hương rước Ngô Xương Ngập về anh em cùng nhau cầm quyền.Tôn anh làm Thiên Sách vương,tự mình xưng Nam Tấn vương.

Hậu Ngô Vương (951-965)

Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập - Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn

Trở lại ngôi vua,thấy Đinh Bộ Lĩnh ở Hoa Lư là tướng cát cứ nguy hiểm nhất,năm 951 Ngô Xương Ngập, Ngô Xương Văn kéo quân vào đánh Hoa Lư.Nhận thấy chưa đủ sức chống lại,Đinh Bộ Lĩnh cho con trai trưởng là Đinh Liễn sang ở làm con tin.Ngô Xương Văn cũng không chịu lui quân, bao vây Hoa Lư gần tháng không hạ được,bèn bắt trói Đinh Liễn treo lên cột cao, gọi Bộ Lĩnh bảo nếu không chịu đầu hàng thì sẽ giết Đinh Liễn.Đinh Bộ Lĩnh nổi dận nói rằng:”Kẻ đại trượng phu cốt lập công danh chứ không bịn rịn tình riêng như đàn bà con trẻ”,rồi sai hơn mười tay nỏ,dặn cứ ra nhằm Đinh Liễn mà bắn.Hai Vương thấy Đinh Bộ Lĩnh cương quyết và nhẫn tâm như thế,cho rằng giết Liễn cũng vô ích,bèn thả cho về rồi rút quân.

Năm 954,Ngô Xương Ngập lâm bệnh từ trần,tình hình cát cứ càng trầm trọng.Một mình không làm chủ được tình thế,Ngô Xương Văn sai sứ sang Nam Hán thỉnh mệnh để tìm chổ dựa (một hình thức đi cầu phong).

Vua Nam Hán là Lưu Thạnh sai Lý Dư sang phong Ngô Xương Văn làm An Nam Tiết độ sứ kiêm Đô hộ.Ngô Xương Văn không nhận phong.Về sự kiện này Ngô Thì Nhiệm bình luận:”Nam Tấn vương đã thỉnh mệnh,kịp thấy mới cầu đã phong ngay như thế,bèn đình chỉ việc trao đổi sứ giả,để đề phòng dòm ngó và giữ được uy tín”.

Ngô Xương Văn ỷ tài thao lược, liền năm đi đánh dẹp các nơi, năm 965 dẫn quân đi đánh hai họ Đường, Nguyễn ở Thái Bình,khi mới vào đất địch bị phục binh bắn,trúng tên tẩm độc tử trận,trị vì 15 năm.

Ngô Xương Xý con Ngô Xương Ngập do sức ép của bộ tướng, rút quân về châu Ái,ngược dòng sông Chu chiếm cứ vùng Bình Kiều(nay thuộc huyện Triệu Sơn tỉnh Thanh Hoá) dựa vào núi rừng tự thủ. Ngày sau bị Đinh Bộ Lĩnh từ Hoa Lư đem quân vào tiêu diệt.Nha tướng nhà Ngô là Đỗ Cảnh Thạc giữ Đỗ Động Giang.

Ngô Nhật Khánh con Ngô Xương Văn và bà Dương Vân Nga (là con gái Dương Tam Kha) tự xưng là An Vương ở Đường Lâm bị Đinh Bộ Lĩnh bức hàng.Bộ Lĩnh chiếm bà Dương Vân Nga phong làm Hoàng hậu (một trong 5 Hoàng hậu của vua Đinh, sinh con trai Đinh Toàn) ,cưới con gái bà Dương Vân Nga cho con trai Đinh Liễn,lại gả con gái của mình là Công chúa Phất Kim cho Ngô Nhật Khánh.

Ngô Nhật Chung em Ngô Nhật Khánh ở Đổ Động trở thành đại Điền chủ.

Sau ngày Đổ Thích đầu độc giết chết Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt vương Đinh Liễn,Đinh Đế Toàn lên ngôi vua,Thái hậu Dương Vân Nga nhiếp chính,Lê Hoàn làm Phó vương.Quyền bính trong ngoài lọt vào tay Thập đạo Tướng quân Lê Hoàn.Hai đại thần nhà Đinh là Đinh Điền và Nguyễn Bặc lo ngại là ngôi báu sẽ mất về tay Lê Hoàn nên có hành động để bảo vệ nhà Đinh,xung đột với Lê Hoàn.Lê Hoàn được Thái hậu ủng hộ,mưu đồ của Đinh Điền, Nguyễn Bặc thất bại.Dương Vân Nga khoác áo Long cổn lên vai Lê Hoàn, nhường ngôi. Lê Hoàn lên làm vua, đổi niên hiệu Thiên Phúc năm thứ nhất,phong Dương Vân Nga làm Hoàng hậu (một trong năm bà Hoàng hậu của vua Lê Đại Hành),phế Đinh Toàn làm Vệ Vương,được ở trong cung với mẹ).

Ngô Nhật Khánh vừa là dòng dõi nhà Ngô,vừa là phò mã nhà Đinh, lại là con riêng Hoàng hậu nhà Lê , nên vừa hận vua Đinh,vừa hận vua Lê, tìm đường báo thù rửa hận, năm 979 dắt díu gia quyến vượt biển vào dụ vua Chiêm Thành ra đánh Hoa Lư.Đi đến cửa Nam Giới (cửa Sót thuộc đất tỉnh Hà Tĩnh),đuổi Phất Kim công chúa trở về sau khi đã dùng dao rạch mặt phá bỏ nhan sắc của người vợ, con gái vua Đinh .

Vua Chiêm Thành vốn muốn lấn chiếm đất Việt,nhân được Ngô Nhật Khánh vào ,nói rõ tình hình nguyện dẫn đường,bèn thân chinh dẫn đoàn chiến thuyền mạnh vượt biển ra định đổ bộ lên cửa Đại Ác và cửa Tiểu Khang để đánh úp Hoa Lư.(Cửa Đại Ác là cửa sông Đáy sau đổi Đại An,cửa Tiểu Khang cũng có tên cửa Càn ở bắc cửa Thần Phù huyện Nga Sơn).Mệnh trời không tựa,chiến thuyền gần đến nơi bị trận bão lớn,chiến thuyền chìm nhiều,tướng sỹ chết đuối vô kể,Ngô Nhật Khánh chết đuối,vua Chiêm thoát chết trở về nước.

Sau đó Ngô Nhật Chung cầm đầu cuộc nổi dậy chống triều đình nhà Tiền Lê ,bị Lê Hoàn dẫn quân từ Hoa Lư ra đàn áp,tan rã nhanh chóng.

Dòng dõi Nam Tấn vương Ngô Xương Văn đến đây thất tán mỗi người một nơi nên thất truyền đã gần ngàn năm nay.Ngày nay mới liên lạc được một số dòng họ,nhưng phả ký gián đoạn nên chưa chính thức chắp nối được.

Dòng Ngô Xương Sắc

Ngô Xương Sắc

Ngô Xương Sắc con trai Ngô Xương Xý,vào đời thứ 8,và bà Lý Thị Khoan Dung,sau ngày Ngô Xương Xý sa cơ ở Bình Kiều,về lánh ẩn ở vùng trung thượng du châu Ái.Ngô Xương Sắc sinh Ngô Tử Canh,Ngô Tử Án, đều ra làm quan khi Lê Hoàn lên làm vua.

Dành được ngôi vua từ nhà Đinh, Lê Hoàn sai Ngô Tử Canh và Từ Mục đi sứ Chiêm Thành, vua Chiêm bắt giữ cả hai không cho về nước.Năm 982,sau khi đã đánh đuổi được quân xâm lăng nhà Tống,Lê Hoàn phát quân đi đánh Chiêm Thành,tiến vào đến tận miền Quảng Nam chiếm được kinh đô nước Chiêm Đồng Dương(vùng huyện Thăng Bình ngày nay),vua Chiêm bỏ chạy,Lê Hoàn chiếm được vô số của cải châu báu,bắt được hàng trăm cung nữ,bắt vua Chiêm phải xưng thần triều cống,lúc đó mới giải thoát được Ngô Tử Canh và Từ Mục.Hai người trở về nước giúp nhà Tiền Lê sửa sang chính sự, có nhiều công lao.

Ngô Tử Canh vô tự.

Ngô Tử Án cũng ra làm quan triều Tiền Lê,sang triều Lý làm Châu mục.Năm 980 Lê Hoàn giao dẫn vài vạn quân đi đào vét sông và làm đường mới nối liền Hoa Lư với đất Chiêm Thành,chuẩn bị cho các cuộc hành quân về sau.Năm 980 đào lại khúc sông nối liền sông Đáy với sông Hoát để tránh cửa Thần Phù hay có sóng gió nguy hiểm.Lại sai vét các sông từ núi Đồng Cổ đến sông Ba Hoà (từ Đa Nê Yên Định đến Đông Hoa Tịnh Gia).Tiếp theo nạo vét kênh Son, kênh Sắt ở Quỳnh Lưu, Diễn Châu (tục gọi Kênh nhà Lê).Nơi đây còn di tích một ghế đá trong hang đá có khắc ba chữ”Thủy thạch tiên” và bài thơ trên vách đá.Năm 1003 lại sai đào khúc sông núi Đa Cái ở huyện Hưng Nguyên.Về đường bộ,Lê Hoàn giao dẫn hai vạn quân mở con đường bộ từ cửa Sót vào phía nam,vượt qua đèo Ngang đến sông Nhật Lễ đất Chiêm Thành,đó là con đường bộ đầu tiên thông suốt bắc nam.

Tiếp theo các đời về sau con cháu dần dần sa sút qua mấy triều Lý, Trần, Hồ cho đến Hậu Lê mới nổi lên.

Khuông Việt Thái sư Ngô Chân Lưu

(Ngô Xương Tỷ 933-1011)

Là con thứ Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập,Thiền Uyển tập anh chép:”Ngô Chân Lưu là dòng dõi Ngô Thuận Đế ở làng Cát Lợi quận Thường Lạc,dạng mạo khôi ngô,tính tình ngay thẳng,lớn lên thụ nghiệp Thiền sư Văn Phong chùa Khai Quốc (tức chùa Trấn Quốc sau này). Năm 40 tuổi tiếng tăm lừng lẫy,Đinh Tiên Hoàng phong chức Tăng Thống.Năm Thái Bình thứ 2 (971) ban hiệu Khuông Việt Thái sư,tham dự quân quốc trọng sự.Lại chép: “Ông tịch ngày 15 tháng 2 năm Thuận Thiên thứ 2 năm 1011, thọ 52 tuổi”.

(Như vậy ở đây có sự nhầm lẫn do tam sao thất bản.Nghiên cứu các tư liệu tin cậy được thì ông sinh năm Quý Tỵ 933,mất năm Tân Hợi 1011,thọ 79 tuổi).

Ông thuộc vào đời thứ năm dòng pháp của Thiền sư Vô Ngôn Thông.

Đinh Bộ Lĩnh lên làm vua ở Hoa Lư đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt,muốn xây dựng một nhà nước thống nhất, nhưng trong công cuộc xây dựng ấy bộ máy nhà nước chỉ có tính chất quân sự.Trong lúc kỷ cương chưa vững,trật tự không ổn định,nên đã dùng hình phạt ghê gớm để uy hiếp nhân dân như đặt vạc dầu giữa điện,nuôi cọp trong chuồng,kẻ phạm tội bị bắt bỏ vạc dầu để nấu,hoặc cho cọp ăn thịt.Trong thực tế các hình phạt hà khắc đó không thu được kết quả.

Trong điều kiện xã hội ta lúc bấy giờ,Hán học tuy đã có được truyền bá ít nhiều, nhưng nếu muốn tổ chức một bộ máy quan liêu với chế độ khoa cử như Hán, Đường để thống trị thì nho học chưa phổ cập,chưa thịnh hành,cho nên Bộ Lĩnh đã phải dựa vào tôn giaó chính là đạo Phật, là thành phần xã hội có uy tín nhất lúc bấy giờ,để duy trì kỷ cương trật tự.

Đinh Bộ Lĩnh lấy Phật giáo,là tôn giáo có tổ chức và quy củ vững vàng,có kinh điển và lễ nghi nghiêm trang,khác hẳn Đạo giáo lúc đó chỉ là một mớ phương thuật mê tín dị đoan.Về tổ chức cũng như về tinh thần,Phật giáo là yếu tố thống nhất thời bấy giờ,nên Đinh Bộ Lĩnh lấy Phật giáo làm Quốc giáo,định phẩm cấp Tăng nhân, giao cho họ lãnh đạo Phật giáo trong toàn quốc.Ngô Chân Lưu được giữ chức Tăng thống, tôn hiệu là Khuông Việt Thái sư,đứng đầu hàng Tăng quan,tham dự triều chính như một vị Tể tướng trong suốt cả thời nhà Đinh và thời nhà Tiền Lê.

Ông có nhiều công giúp Lê Hoàn đánh quân Tống xâm lược và ngoại giao với nhà Tống.

Năm Thiên Phúc thứ 7 (986), Lê Đại Hành giao cho ông tiếp Bắc sứ Lý Giác.Ông cùng Lý Giác xướng hoạ thơ,ra về Lý Giác tặng bài thơ :

Hạnh ngộ minh thời tán thịnh du

Nhất thân nhị độ sứ Giao chu

Đông đô lưỡng biệt tâm vưu luyến

Nam Việt thiên trùng vọng vị hưu

Mã đạp yên vân xuyên lạng thạch

Xa từ thanh chướng phiếm trường lưu

Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu

Khê đàm ba tịnh kiên thiềm thu.

Dịch nghĩa: May gặp thời minh giúp việc vua

Một mình hai đợi sứ Giao Châu

Đông đô đôi biệt dòng lưu luyến

Nam Việt muôn trùng ngóng chửa bưa

Ngựa đạp mây mù qua sóng đá

Xe rời núi biếc thả buồm đưa

Ngòai trời còn có trời soi sáng

Sóng lặng khe đầm tră ngắm thu.

Hai câu cuối có nghĩa là “ Ngoài trời lại có trời,nên soi tỏ.Khe đầm lặng sóng thấy rõ côn trùng ở đáy nước”,ý nói ngoài nước Trung Quốc có nước Việt Nam,giao hiếu tốt sóng yên gió lặng hưởng thái bình.

Ngô Chân Lưu làm bài thơ “Vương lang quy”tiễn biệt sứ bộ lên đường về nước như sau :

Tường quang phong hảo cẩm phàm trương

Diêu vọng thần tiên phục Đế vương

Vạn trùng sơn thuỷ thiệp thương lương

Cửu thiên quy lộ trường

Tình thảm thiết đối ly trường

Phan luyến sứ tinh lang

Nguyện tương thâm ý vị Nam cường

Phân minh tấu ngã hoàng.

Nghĩa là :

Trời lành gió thuận, gấm buồm dương

Thần tiên về đế hương

Muôn trùng vạn dặm biển mênh mang

Trời xanh xa dặm trường

Tình ray rứt chén lên đường

Bịn rịn sứ tinh lang

Nguyện đem thâm ý vì Nam bang

Phân minh tấu Thượng hòang.

Sống trải các triều Đinh, Lê, Lý,Ngô Chân Lưu giúp vua Đinh xây dựng triều chính sơ khai,mở mang văn hoá, giúp Lê Hoàn đánh đuổi quân Tống xâm lăng, ủng hộ Lý Công Uẩn lên ngôi vua thay thế nhà Tiền Lê tàn ngược.Được mắt thấy tai nghe bao sự kiện diễn ra do các vị vua chúa bạo tàn,dựa vào quân dân dành được quyền cao,nắm quyền lực trong tay, tác oai tác quái ,coi dân như cỏ rác mất cả nhân tính,lấy khoái lạc của bản thân làm trọng,đến khi về già ông dựng ngôi chùa trên núi Vệ Linh truyền đạo.(Tức núi Thanh Tước thuộc huyện Kim Anh tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay).

Trước giờ tịch, ngồi tĩnh toạ đọc cho đệ tử nghe và ghi lại bốn câu kệ:

Mộc trung nguyên hữu hoả

Nguyên hoả phục hồi sinh

Nhược vị mộc vô hoả

Toản tại hà do manh.

Dịch nghĩa:

Trong cây vốn có lửa

Có lửa,lửa mới bừng

Nếu bảo cây không lửa

Cọ xát do đâu bùng.

Copyright 2013 © HỘI GIA PHẢ HỌ NGÔ
Email: info@giaphahongo.com
Đang online: 12
Lượt truy cập: 389693
Designed & Powered by TOPSITE VIỆT NAM